"Một con én không làm thành mùa xuân, 
mà tôi chưa được là con chim én. 
       Tôi chỉ là con đom đóm nhỏ..."       












Trang kỷ niệm

 

Những kỷ niệm vui về giờ thực tập Sư phạm

Lý Năng Nhường (Lớp Pháp văn - Khóa Lương Văn Can)

Tôi rời trường Đại Học Sư Phạm Huế vừa đúng 47 năm, nhưng vài kỷ niệm về các giờ đầu tiên trên bục giảng vẫn chưa phai mờ trong ký ức .
Vào thời điểm giữa năm 1973, chúng tôi chuẩn bị đi thực tập Sư Phạm để làm hành trang ra trường. Lớp Pháp văn của chúng tôi vào năm cuối chỉ còn lại 11 sinh viên, được chia thành 3 nhóm thực tập sinh. Nhóm của tôi gồm 4 giáo sinh (Tôi, V.Đ.Triệu, T.X. Lộc, và một bạn nữa- lâu quá tôi không nhớ rõ tên). Chúng tôi đi thực tập với các Thầy Phạm Kiêm. Âu, Mai Duy Trung, Trần Hữu Long và Lê Bá Quân. Nhưng có lẽ với Thầy Phạm Kiêm Âu, tôi có nhiều kỷ niệm sâu sắc nhất. Vào thời điểm ấy, Thầy Phạm Kiêm Âu cũng đã đứng tuổi, có lẽ tuổi chúng tôi chỉ bằng tuổi con Thầy. Tôi còn nhớ trong buổi họp đầu tiên của nhóm tại nhà Thầy để phân công giờ thực tập, Thầy có một so sánh rất vui, nhưng rất nghiêm chỉnh “Các anh đi thực tập cũng giống như tìm Thầy học võ, Thầy đi bài Quyền cước nào, thì các anh cũng nên theo như thế”. Tôi nghe qua cũng thấy hơi ớn, và đến khi phân giờ dạy thì tôi mới thật sự “toát mồ hôi”. Thầy Phạm Kiêm Âu thường dạy Pháp văn, sinh ngữ chính các lớp Đệ nhất A, B và C tại Trường Nữ Trung học Đồng Khánh. Thời ấy, theo chương trình giảng dạy, học sinh Đệ nhất A, B chỉ học cuốn Mauger 2 tương đối nhẹ nhàng, nhưng Đệ nhất C sinh ngữ chính Pháp văn, sẽ học cuốn Mauger 3 và Văn chương Pháp. Không biết Thầy Âu có muốn “nắn gân” tôi hay không mà Thầy đã chia tôi dạy 1 giờ Văn chương Pháp lớp Đệ nhất C1 Trường Đồng Khánh?
Bài dạy là một bài thơ của Paul Verlaine (Il pleure dans mon Cœur…) là một trong những Thi sĩ trong Văn học lãng mạn Pháp vào Thế kỷ 19. Tôi vừa lo nhưng cũng thấy vui mừng, vì đây là một trong những bài thơ của Verlaine mà tôi tâm đắc nhất. Có lẽ đây là một giờ dạy tôi đã chuẩn bị kỹ càng và công phu nhất trong cuộc đời cầm phấn. Thế rồi, ngày “thượng đài” cũng đã đến. Buổi sáng hôm ấy, mặc dầu đã cuối Xuân, nhưng trời vẫn còn se lạnh. Không biết anh T.X. Lộc xoay xở thế nào mà có một chiếc xe Jeep và chở chúng tôi thẳng đến Trường Đồng Khánh. Cảm giác của tôi đầu tiên đi vào Trường Đồng Khánh thật khó tả, một cảm giác vừa lâng lâng, vừa hồi hộp, không biết có giống “Lưu Nguyễn” khi lạc vào Thiên Thai không? Trong sân trường, dưới những hàng phượng vĩ, trên những hành lang lớp học, đâu đâu cũng thấy thấp thoáng các tà áo trắng thướt tha. Khi chúng tôi bước qua dãy hành lang dẫn đến phòng Hội Đồng Giáo Sư, phía sau lưng chúng tôi vang lên những tiếng xì xào, cùng những nụ cười khúc khích, trêu chọc. Có lẽ mấy “nàng” muốn dùng số đông để uy hiếp tinh thần chúng tôi. Giờ quyết định đã đến. Sau mấy hồi trống vang lên, các nữ sinh xếp hàng ngay ngắn vào lớp học. Tôi bước đi như người mộng du, tim đập liên hồi. Thầy Âu có một quy định rất nghiêm khắc là khi Thầy đã vào lớp rồi, học sinh nào vào sau xem như đi trễ. Vì thế, khi Thầy và chúng tôi bước vào lớp, tất cả nữ sinh đều hiện diện đông đủ, đứng chào rất nghiêm chỉnh. Sau khi chờ Thầy và các bạn về ngồi cuối lớp tham dự, Tôi bước lên “đoạn đầu đài”. Tôi nhìn bao quát lớp, các em trông giống như các Thiên thần áo trắng vừa xuống trần gian (Tôi xin nói thêm một chút về chuyên môn: Thầy Âu có khuynh hướng là sau khi đọc xong bài thơ, thì dịch liền sang tiếng Việt. Tôi có thắc mắc với Thầy, nếu học sinh không hiểu nghĩa thì làm sao dịch được, nhưng Thầy nói rằng học sinh đã soạn bài ở nhà, đương nhiên phải hiểu và dịch được. Lúc đầu, tôi thầm không đồng tình với Thầy, nhưng cuối cùng cũng phải theo thế võ của Thầy mà diễn thôi). Sau khi đọc bài thơ, và cho các em học sinh đọc và dịch nghĩa, đến phần tôi dịch bài thơ. Tôi bắt đầu với hai câu thơ đầu: “Lệ rơi trong lòng tôi như mưa rơi trên hè phố”, đã có tiếng xuýt xoa, xì xào, tôi nghĩ các em thấy thấm ý với lời dịch của 2 câu trên. Đa số các em thường dịch “mưa ngoài trời như mưa trong lòng”, nhưng các em không phân biệt rõ ở đây Verlaine có ý dùng phép so sánh và chơi chữ với hai động từ pleurer, nghĩa là khóc trong câu “Il pleure dans mon cœur” và pleuvoir nghĩa là mưa trong câu “Il pleut sur la ville”. Tiết học càng lúc càng sinh động, đa số học sinh trong lớp trình độ sinh ngữ rất khá, có thể trả lời hầu hết các câu hỏi tôi đưa ra. Cá biệt có một nữ sinh rất xuất sắc và thông minh, đến nay tôi vẫn còn nhớ rõ tên em PTTN, hầu như cảm nhận được những nét hay nét đẹp của bài thơ, đã trả lời xuất sắc những câu hỏi khó mà tôi dành riêng cho các em học sinh giỏi trong lớp. Tôi cảm thấy hưng phấn và hoàn thành trọn vẹn vai diễn của mình, và rất may là không bị cháy giáo án. Một điều tôi cảm thấy vui và ngạc nhiên thích thú là sau phần nhận xét tiết dạy, Thầy Âu ngỏ ý tôi sao chép lại bản dịch của bài thơ và tặng Thầy một bản. Có lẽ đó là một trong những giây phút thăng hoa nhất trong cuộc đời dạy học của tôi. Niềm vui về giờ dạy thực tập rồi cũng phôi pha, nhưng nào ngờ cơn “dư chấn” của nó còn làm tôi chao đảo hơn, rồi “rắc rối của cuộc đời tôi đã xảy ra”. Mấy hôm sau trong lúc đang ngồi tại thư viện Đại học Văn Khoa Huế ở đường Lê Lợi để ôn thi cuối khoá, tình cờ một cô gái dáng người mảnh khảnh, khuôn mặt bầu bỉnh, đặc biệt có chiếc răng khểnh thật dể thương, đến gặp tôi. Qua chào hỏi làm quen, tôi biết nàng cũng học ĐHSP ban Anh văn, sau tôi một năm (thuộc khoá Huỳnh Thúc Kháng). Không biết do ai kể lại mà nàng biết tôi có dạy tiết thực tập với bài thơ “Il pleure dans mon cœur”, và ngỏ ý nhờ tôi dịch bài thơ sang tiếng Việt. Vào thời đó, theo quy chế của trường ĐHSP Huế, sinh viên ban Ngoại ngữ bắt buộc phải học thêm môn sinh ngữ phụ là Anh hoặc Pháp văn. Thật là “buồn ngủ gặp chiếu manh”, cơ hội ngàn năm một thuở đã đến rồi. Thật ra lúc ấy tôi có thể đưa ngay lời dịch bài thơ cho nàng, nhưng như vậy thì sau nầy “bóng chim tăm cá” biết đâu mà tìm gặp lại. Qua tìm hiểu tôi biết người đẹp cũng thuê nhà trọ trong cùng ngõ hẻm với nhà tôi thuê. Đúng là thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Trận “chiến” này thế nào tôi cũng giành chiến thắng. Tôi nắn nót chép lại bản dịch của bài thơ, đem qua tặng nàng làm quà gặp mặt, và tiếp theo là những buổi chiều “trực ban” trong sân nhà nàng.

 Ông Verlaine ơi, cảm ơn ông đã sáng tác cho đời bài thơ bất hủ, tạo cho tôi những giây phút thăng hoa trong cuộc đời đi dạy, và cũng nhờ bài thơ này mà tôi đã tìm được “một nữa kia” của đời tôi.

  Đến nay khi tuổi đời đã gần “bảy bó”, ngồi hồi tưởng lại mà tôi thầm cảm ơn bài thơ của ông đã tạo cơ hội cho tôi có được một mối duyên tiền định, nhưng cũng qua bài thơ này, tôi cũng thầm trách tạo hoá đã gán cho tôi “món nợ trần ai” mà tôi phải cưu mang trong suốt cuộc đời

Wichita Falls, Texas Hoa Kỳ

Mùa Đại dịch Covid 19

Lý Năng Nhường




Trang kỷ niệm

một thời ĐỒNG KHÁNH 

Kỷ niệm của chị Vương Thúy Nga

(trang 14)

   Thầy Âu “bị” hay “được” học trò sợ nhất và cũng gần gũi nhất. Chúng tôi gặp Thầy vào những năm học của các lớp đệ Tứ (1954) với môn Toán, đệ Tam B với môn Toán và Lý Hóa và đệ Nhị B với môn Pháp văn sinh ngữ 1.

Thầy đưa vào lớp học một không khí sôi nổi, có khi ngộp thở vì cách điều hành lớp học và cho điểm của Thầy. Lên bảng làm Toán giờ Thầy, nếu muốn ghi dấu cộng (+) mà còn chần chờ thì Thầy cho đó là dấu trừ (-) và nếu dấu trừ ở đó là sai thì được 1 con số không (zéro) trong sổ ngay ! Trong giờ Pháp văn của Thầy, muốn đứng lên “ý kiến” hay “kiện tụng” thì phải nói bằng tiếng Pháp, nếu mà theo thói quen mở miệng là “thưa thầy” sẽ bị Thầy quát ngay : “Parlez en français, mademoiselle!”. Có nhiều người hoảng hồn quên luôn câu đã soạn sẵn để “kiện” Thầy !

Sau khi học xong ra trường, nếu ai viết thư cho Thầy thì Thầy sẽ trả lời ngay, vừa trả lời, vừa dạy bảo, vừa tâm sự v.v… học trò nào cũng kính mến Thầy nhiều hơn cả khi đang còn học với Thầy.

 

Kỷ niệm của chị Ngô Thị Ấn

(trang 51, 52)

   Thầy Phạm Kiêm Âu : ba năm đệ II cấp, năm nào cũng học Pháp văn với Thầy Âu. Năm đệ II thầy Âu bắt mỗi trò phải nộp 1 hình 2x2cm để thầy dán vào bản đồ lớp.

Sau 30-4-1975 vì thời cuộc, tôi trở thành một công nhân đóng sổ thuê, phó chủ sản xuất là em gái tôi Ngô Võ San, cũng là học trò thầy Âu. Thỉnh thoảng thầy mang giấy tới, thuê chị em tôi đóng sổ. Chúng tôi phải lựa hàng đặc biệt để đóng cho thầy, và tính tiền công cũng phải khác thiên hạ. Thầy khen đóng đẹp mà rẻ. Thầy ơi ! Khi đó con quá khốn cùng, không có cháo cho con ăn nên phải lấy tiền công đóng sổ của thầy dù trong lòng con vẫn nghĩ ơn thầy vời vợi !

Năm 1992, trước khi rời Việt Nam, Thúy Nga ra Huế có rủ tôi lại thăm thầy. Lúc đó thầy đã yếu rồi, nói rất nhỏ nhưng trí nhớ còn tốt. Thầy mở vở ghi danh sách và bản đồ lớp IIB, chỉ cho tôi coi hình mình ở đâu trong bản đồ !

Thầy Âu là người rất đa cảm.

Năm đệ nhị, thầy giảng bài “L’exilé” mà đỏ hoe con mắt ! Năm đệ nhất thầy giảng mối tình giữa Don Rodrigue và Chimène thì cũng thấy kiếng thầy ướt.

Vì học Pháp văn với thầy liên tiếp trong ba năm nên ảnh hưởng của thầy lên tâm hồn con khá đậm.

Năm 1969 con sang Hoa kỳ vì chồng con du học bên đó. Buổi tối con mới đi học Anh văn. Ban ngày chồng lái xe đi học, con không có xe mà đi, vả lại có xe con cũng không biết lái ! Ngày ở nhà một mình, xung quanh toàn là Mỹ cho nên câu “L’exilé partout est seul”  và câu “La Providence a … attaché le pied de chaque homme à son sol natal” mà thầy giảng từ 9, 10 năm trước cứ hiện ra trong đầu con.

Và cái quê hương “Le sol natal” của thầy đã khiến con tự ý rời Mỹ về Việt Nam.

            

Trang hình ảnh

Kỷ vật của Thầy 






Hình chụp ngày 24-9-2007

Hình chụp ngày 24-9-2007

Hình chụp ngày 24-9-2007

Chụp lại từ sổ gốc, ngày 17-8-2008











Il faut savoir joindre l'utile à l'agréable, mêler le grave au doux, le plaisir au sévère.
Si je puis laisser dans vos esprits des idées vraies et généreuses, ce sera pour moi la plus douce des récompenses et la plus belle des gloires.
Exiger la reconnaissance, c'est presque mériter l'ingratitude.
L'accomplissement du devoir, voilà, jeunes élèves, et le véritable but de la vie et le véritable bien.

(
Những câu châm ngôn được ghi chép trên mặt bàn viết hoặc trong sổ sách)













Tủ sách của thầy Phạm Kiêm Âu
tại nhà riêng ở đường Lê Lợi, Huế











Ngăn cất giử các sổ điểm
trong tủ sách của thầy Phạm Kiêm Âu











Các sổ điểm được đánh số cẩn thận, ví dụ: 
17 (62-63 ĐK), 18 (62-63 QH) . . .
60 (78-79) ĐHSP, 61 (79-80) ĐHSP




Ai ơi chí giữ cho bền,
Dù ai xoay hướng, xoay chiều mặc ai.
Cát bay, vàng lại ra vàng,
Những người quân-tử dạ càng đinh-ninh


   


Trang hình ảnh


Tại nhà riêng...

Hình chụp ngày 3-8-2011








Bàn thờ của Ông Bà Cụ thân sinh,
và của thầy Phạm Kiêm Âu
tại nhà riêng


 Chụp lại từ hình gốc, ngày 14-9-2006









 Chữ Nghĩa       
luôn được Thầy treo ở nơi trang trọng nhất trong nhà, đối diện với bàn thờ







                      Hình chụp tháng 07 / 1994














Thầy Cô Phạm Kiêm Âu
hình chụp tháng 5 / 1994,
 4 tháng trước khi Thầy qua đời

Hình chụp ngày 30 / 08 / 1993




                         Hình chụp ngày 01 / 03 / 1993







                      Thầy Phạm Kiêm Âu năm 71 tuổi  

Hình chụp ngày 11 / 01 / 1990


                              Hình chụp ngày 02 / 09 / 1989




Hình chụp ngày 25 / 01 / 1988

Hình chụp ngày 26 / 09 / 1987





Hình chụp ngày 20 / 02 / 1981










Ông Bà và cháu nội, 
nhân ngày sinh nhật của cháu 17 / 01 / 1990



     hình chụp ngày 11 / 01 / 1990










Ông Bà và các cháu nội ngoại,
vào một ngày kỷ niệm của Gia đình



            Thầy Cô Phạm Kiêm Âu










Cùng với các con
tại nhà Lê Lơi,
khoảng 1988 - 1989














Ông bà và cháu ngoại
hình chụp năm 1988
nhân kỷ niệm ngày cưới 25/01










Thầy Cô dịp đám cưới con trai
năm 1987









Ông bà và cháu ngoại
hình chụp tháng 01 / 1986











Hình chụp ngày 03 / 09 / 1981
tại phòng khách Nhà Lê Lợi












Năm 1981, lần đầu tiên "làm sui"
Hình chụp với Thầy cũ Phạm Văn Bạch
 







                   




























Trang hình ảnh

Với các đồng nghiệp và học sinh ...

  
Ngày Nhà Giáo  20 / 11 / 1993 với Cựu Học Sinh Đồng Khánh

Hình chụp ngày 12 tháng 3 năm 1989
"Buổi tiệc đầu năm Kỷ Tỵ,
12 giờ trưa Chủ nhật 12-3-89"

Ghi chú sau lưng hình

Ghi chú kèm theo


 
Với học trò cũ, anh Võ Khắc Mai 
Hình chụp ngày 11-09-1986, lưng hình có đề tặng của anh V.K.Mai, và ghi chú của Thầy

   
   

Ghi chú trên hình: "Chiều chủ nhật 3-4-1983
Cựu học sinh, cựu giáo chức, cựu nhân viên trường Quốc-Học (Huế)"

Tại hải đảo nuôi cá, Nha Trang
ngày 14 / 09 / 1982

Trước đền Quang Trung, Qui Nhơn
ngày 12 / 09 / 1982

Ban Pháp ĐHSP Huế, khoảng 1980

Khoa Ngoại ngữ ĐHSP Huế, khoảng 1980

Trường nữ Trung học Đồng Khánh Huế, niên khóa 1973 - 1974

Thầy và các bạn đồng nghiệp, những năm 1960 - 1970

 
Hình chụp ở biển Thuận An, Huế

 

Hình chụp ngày 24 / 06 / 1965, tại nhà nghỉ mát của ông Ngô Đình Cẩn

Các thầy cô trường Đồng Khánh, Huế, ngày 08 / 04 / 1963,
Ghi chú sau lưng hình : "Cô Đặng Tống Tinh Nhơn (Bà Văn Điình Hy) Hiệu trưởng (8-4-1963)"

Trường nữ trung học Đồng Khánh, Huế
Ghi chú sau lưng hình : Thầy cô trường Đồng Khánh - 1963"
Các thầy cô trường Quốc Học, Huế,
khoảng 1960-1963

Các thầy cô trường Quốc Học, Huế,
khoảng 1960-1963

Ghi chú sau lưng hình : "Các thầy dạy Đồng Khánh"

Ghi chú sau lưng hình : "Các thầy trường Đồng Khánh - 1962"
và ở góc trái hình :  "Khoảng 1962, Đồng Khánh, Huế"
Viện Hán học, Huế, ngày 09 / 02 / 1961
"24 tháng chạp Canh Tý"

Viện Hán học, Huế, ngày 09 / 02 / 1961
Cùng thầy Phan văn Dật và các nữ sinh,
Ghi chú sau lưng hình : " 24 tháng chạp Canh Tý"

Thầy trò lớp IA2, trường Quốc Học, 1960
Ghi chú sau lưng hình "1A2, Tết Canh Tý - Quốc Học"


Trường Bán Công, Huế, Lớp 2A1, niên khóa 1957-1958
gồm các hình :




Trường trung học Đồng Khánh, Huế
Ghi chú sau lưng hình : "Các thầy dạy từ 1955 - 1960"

Trong một lớp học, trường nữ trung học Đồng Khanh, Huế

Trường Đồng Khánh, Huế,
Các thầy và các nữ sinh những năm 1954 - 1960
Gồm những hình: 

(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)
(9)

 
1954 Học sinh cũ đề tặng, ghi : Bonne humeur; dévouement !!!

Các thầy trường Đồng Khánh, Huế
Ghi chú sau lưng hình : "Vào khoảng 1954-1955"

Trường Đồng Khánh, Huếtháng Giêng 1955
với thầy Nguyễn Xuân Minh. 

Trường Trung học Khải Định (nhỏ) Huế, tháng 5, 1954

(1)
(2)
(3)
(1), (2), (3)  Trường Trung học Phan Thanh Giản, Đà-nẳng, 1954