Trang kỷ niệm
Những kỷ niệm vui về giờ thực tập Sư phạm
Lý Năng Nhường (Lớp Pháp văn - Khóa Lương Văn Can)
Ông
Verlaine ơi, cảm ơn ông đã sáng tác cho đời bài thơ bất hủ, tạo cho tôi những
giây phút thăng hoa trong cuộc đời đi dạy, và cũng nhờ bài thơ này mà tôi đã
tìm được “một nữa kia” của đời tôi.
Đến nay khi tuổi đời đã gần “bảy bó”, ngồi hồi tưởng lại mà tôi thầm cảm ơn bài
thơ của ông đã tạo cơ hội cho tôi có được một mối duyên tiền định, nhưng cũng
qua bài thơ này, tôi cũng thầm trách tạo hoá đã gán cho tôi “món nợ trần ai” mà
tôi phải cưu mang trong suốt cuộc đời
Wichita Falls,
Texas Hoa Kỳ
Mùa
Đại dịch Covid 19
Lý
Năng Nhường
Trang kỷ niệm
một thời ĐỒNG KHÁNH
Kỷ niệm của chị Vương Thúy Nga
(trang 14)
Thầy Âu “bị” hay “được” học trò sợ nhất và cũng gần gũi nhất. Chúng tôi gặp Thầy vào những năm học của các lớp đệ Tứ (1954) với môn Toán, đệ Tam B với môn Toán và Lý Hóa và đệ Nhị B với môn Pháp văn sinh ngữ 1.
Thầy đưa vào lớp
học một không khí sôi nổi, có khi ngộp thở vì cách điều hành lớp học và cho điểm
của Thầy. Lên bảng làm Toán giờ Thầy, nếu muốn ghi dấu cộng (+) mà còn chần chờ
thì Thầy cho đó là dấu trừ (-) và nếu dấu trừ ở đó là sai thì được 1 con số
không (zéro) trong sổ ngay ! Trong giờ Pháp văn của Thầy, muốn đứng lên “ý kiến”
hay “kiện tụng” thì phải nói bằng tiếng Pháp, nếu mà theo thói quen mở miệng là
“thưa thầy” sẽ bị Thầy quát ngay : “Parlez en français, mademoiselle!”. Có nhiều
người hoảng hồn quên luôn câu đã soạn sẵn để “kiện” Thầy !
Sau
khi học xong ra trường, nếu ai
viết thư cho Thầy thì Thầy sẽ trả lời ngay, vừa trả lời, vừa dạy bảo, vừa tâm sự
v.v… học trò nào cũng kính mến Thầy nhiều hơn cả khi đang còn học với Thầy.
Kỷ niệm của chị Ngô Thị Ấn
(trang
51, 52)
Thầy Phạm Kiêm Âu : ba năm đệ II cấp, năm nào cũng học Pháp văn với Thầy Âu. Năm đệ II thầy Âu bắt mỗi trò phải nộp 1 hình 2x2cm để thầy dán vào bản đồ lớp.
Sau 30-4-1975 vì
thời cuộc, tôi trở thành một công nhân đóng sổ thuê, phó chủ sản xuất là em gái
tôi Ngô Võ San, cũng là học trò thầy Âu. Thỉnh thoảng thầy mang giấy tới, thuê
chị em tôi đóng sổ. Chúng tôi phải lựa hàng đặc biệt để đóng cho thầy, và tính
tiền công cũng phải khác thiên hạ. Thầy khen đóng đẹp mà rẻ. Thầy ơi ! Khi đó
con quá khốn cùng, không có cháo cho con ăn nên phải lấy tiền công đóng sổ của
thầy dù trong lòng con vẫn nghĩ ơn thầy vời vợi !
Năm 1992, trước
khi rời Việt Nam, Thúy Nga ra Huế có rủ tôi lại thăm thầy. Lúc đó thầy đã yếu rồi,
nói rất nhỏ nhưng trí nhớ còn tốt. Thầy mở vở ghi danh sách và bản đồ lớp IIB,
chỉ cho tôi coi hình mình ở đâu trong bản đồ !
Thầy Âu là người
rất đa cảm.
Năm đệ nhị, thầy
giảng bài “L’exilé” mà đỏ hoe con mắt ! Năm đệ nhất thầy giảng mối tình giữa
Don Rodrigue và Chimène thì cũng thấy kiếng thầy ướt.
Vì học Pháp
văn với thầy liên tiếp trong ba năm nên ảnh hưởng của thầy lên tâm hồn con khá
đậm.
Năm 1969 con
sang Hoa kỳ vì chồng con du học bên đó. Buổi tối con mới đi học Anh văn. Ban
ngày chồng lái xe đi học, con không có xe mà đi, vả lại có xe con cũng không biết
lái ! Ngày ở nhà một mình, xung quanh toàn là Mỹ cho nên câu “L’exilé partout
est seul” và câu “La Providence a …
attaché le pied de chaque homme à son sol natal” mà thầy giảng từ 9, 10 năm trước
cứ hiện ra trong đầu con.
Và cái quê
hương “Le sol natal” của thầy đã khiến con tự ý rời Mỹ về Việt Nam.
Trang hình ảnh
Kỷ vật của Thầy
Hình chụp ngày 24-9-2007 Hình chụp ngày 24-9-2007 Hình chụp ngày 24-9-2007 Chụp lại từ sổ gốc, ngày 17-8-2008 | Il faut savoir joindre l'utile à l'agréable, mêler le grave au doux, le plaisir au sévère. Si je puis laisser dans vos esprits des idées vraies et généreuses, ce sera pour moi la plus douce des récompenses et la plus belle des gloires. Exiger la reconnaissance, c'est presque mériter l'ingratitude. L'accomplissement du devoir, voilà, jeunes élèves, et le véritable but de la vie et le véritable bien. (Những câu châm ngôn được ghi chép trên mặt bàn viết hoặc trong sổ sách) Tủ sách của thầy Phạm Kiêm Âu tại nhà riêng ở đường Lê Lợi, Huế Ngăn cất giử các sổ điểm trong tủ sách của thầy Phạm Kiêm Âu Các sổ điểm được đánh số cẩn thận, ví dụ: 17 (62-63 ĐK), 18 (62-63 QH) . . . 60 (78-79) ĐHSP, 61 (79-80) ĐHSP Ai ơi chí giữ cho bền, Dù ai xoay hướng, xoay chiều mặc ai. Cát bay, vàng lại ra vàng, Những người quân-tử dạ càng đinh-ninh |
Trang hình ảnh
Trang hình ảnh


"24 tháng chạp Canh Tý"
Ghi chú sau lưng hình : " 24 tháng chạp Canh Tý"
Ghi chú sau lưng hình : "Vào khoảng 1954-1955"
với thầy Nguyễn Xuân Minh.















































































